Đăng Nhập
TÌNH HÌNH KINH TẾ-XÃ HỘI

Đăk Glei 42 năm xây dựng và phát triển

 Ngày 01-11-1975, Hội nghị Tỉnh ủy Gia Lai - Kon Tum đã ra Nghị quyết hợp nhất hai huyện H30 và H40 để thành lập lại huyện Đăk Glei.

 Trải qua 42 năm xây dựng và phát triển, thực hiện các Nghị quyết của Đảng bộ huyện, tranh thủ những thời cơ, thuận lợi vượt qua những khó khăn, thử thách, dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện qua các thời kỳ, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân các dân tộc huyện Đăk Glei đã đoàn kết thống nhất xây dựng và phát triển huyện đạt được những thành tựu đáng khích lệ trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị...

          Những thành tựu đạt được từ khi thành lập lại huyện đến nay đã tạo tiền đề quan trọng để huyện nhà tiếp tục xây dựng và phát triển nhanh, bền vững hơn trong giai đoạn mới, là sự đóng góp của công sức của toàn quân, toàn dân các dân tộc trong huyện đoàn kết vững tin theo con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã lựa chọn, vượt qua mọi khó khăn, thách thức xây dựng huyện Đăk Glei ngày càng ổn định và phát triển.Trong những năm 1920, để quản lý và dễ bề cai trị, thực dân Pháp đã chia tỉnh Kon Tum ra làm 3 huyện có bộ máy hành chính hoàn chỉnh trong đó có huyện Đăk Glei. Trải qua gần một trăm năm, trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, Nhân dân các dân tộc huyện Đăk Glei đã kiên trung đi theo Đảng, theo Bác Hồ, đóng góp sức người, sức của, cùng với Nhân dân cả nước hoàn thành công cuộc giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Cán bộ và Nhân dân có quyền tự hào bởi huyện Đăk Glei là vùng căn cứ cách mạng ở Tây Nguyên, là cái nôi cách mạng trong hai cuộc kháng chiến gian khổ trường kỳ và thắng lợi vẻ vang của dân tộc, là đơn vị được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu anh Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Từ khi chiếm đóng Đăk Glei, thực dân Pháp đã thực hiện nhiều thủ đoạn để chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Chúng thực hiện chính sách ngu dân, làm cho đời sống Nhân dân lâm vào cảnh bần cùng hóa vô cùng cơ cực, đói ăn, lạt muối, dịch bệnh... nhằm khuất phục ý chí cách mạng trong Nhân dân. Để giam cầm các chiến sỹ cách mạng, ngăn chặn phong trào cách mạng Việt Nam, năm 1932 thực dân Pháp đã xây dựng ở xã Đăk Choong nhà ngục Đăk Glei, chúng đã biến nơi đây thành “căng an trí” để giam cầm những chiến sĩ Cộng sản bị chúng treo án tù chung thân. Trong số những chiến sĩ cách mạng bị giam giữ ở đây có nhiều đồng chí sau này là lãnh đạo cấp cao của Đảng như Lê Văn Hiến, Chu Huy Mân, Trần Văn Trà, Nguyễn Sơn Trà, Lê Bá Tụ, Hà Thu Phương, Tố Hữu. Nhân dân Đăk Glei luôn kiên trung với Đảng, với cách mạng đã tìm cách liên lạc, che giấu, giúp đỡ, đưa đường nhiều đồng chí vượt ngục thành công trong đó có đồng chí Tố Hữu, Nguyễn Ngọc Huệ. Nhiều trận đánh thắng lớn, bất ngờ làm cho quân Pháp khiếp sợ như trận Xốp Dùi, Xốp Nghét.

Trong  kháng chiến chống đế Mỹ. Để bảo đảm tính bí mật các căn cứ cách mạng của tỉnh, Tỉnh ủy đã chia huyện Đăk Glei thành 2 huyện là H30 và H40. Quân và dân các dân tộc trong hai huyện đã cùng với quân dân toàn miền Nam và Nhân dân cả nước lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của Mỹ, ngụy. Ngày 16/5/1974, Đảng bộ, quân dân hai huyện H30 và H40 phối hợp cùng bộ đội tỉnh, và quân chủ lực B3 đồng loạt tiến công, tiêu diệt các đồn bốt của Mỹ - ngụy, xóa sổ chi khu Đăk Pek, giải phóng hoàn toàn huyện nhà; Nhân dân huyện Đăk Glei từ đây thoát khỏi chế độ cai trị của Mỹ - ngụy.

Sau khi hòa bình lập lại, ngày 01/11/1975, Tỉnh ủy Gia Lai - Kon Tum (cũ) đã ra Nghị quyết sáp nhập 2 huyện H30 và H40, tái thành lập huyện Đăk Glei. Sau khi được thành lập, Đảng bộ huyện đã nhanh chóng triển khai nhiều chủ trương, giải pháp nhằm khắc phục vết thương chiến tranh ổn định, phát triển kinh tế. Với chủ trương ưu tiên phát triển nông nghiệp, tiến hành khai hoang đồng ruộng, phát động phong trào làm ruộng nước, sản xuất hai vụ trên một số diện tích đất canh tác. Gắn với công tác khai hoang, Đảng bộ huyện chỉ đạo làm thủy lợi với tinh thần khai hoang đến đâu thủy lợi đến đó, vừa triển khai các công trình thủy lợi lớn, vừa hướng dẫn Nhân dân tận dụng các nguồn nước tưới cho đồng ruộng nhỏ lẻ, phân tán. Đồng thời, lãnh chỉ đạo, hưng dẫn Nhân dân áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đưa vào thử nghiệm các loại cây giống, con giống có năng suất chất lượng cao mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt góp phần nâng cao đời sống vật chất tinh thần của Nhân dân. Chủ trương định canh, định cư được chú trọng triển khai quyết liệt có hiệu quả tạo cơ sở cho phát triển các dịch vụ công cộng như trường học, trạm y tế và các công trình phúc lợi khác đồng thời giúp Nhân dân ổn định cuộc sống, xây dựng  đời sống mới. Mô hình nông lâm kết hợp, được áp dụng rộng rãi phổ biến trong cơ cấu kinh tế của huyện. Trồng, chăm sóc, bảo vệ  khai thác rừng và trồng cây công nghiệp đã được triển khai có hiệu quả góp phần tích cực gìn giữ, cải tạo tài nguyên môi trường nhất là việc phủ xanh đất trống đồi trọc. có nhiều xã có phong trào phát triển kinh tế hiệu quả như xã Đãk Pek, xã Đăk Môn, Xã Đăk Kroong, xã Đăk Long... đời sống của Nhân dân được cải thiện đáng kể, quốc phòng - an ninh không ngừng được củng cố, an ninh biên giới thường xuyên được giữ vững ổn định.

Hơn 30 năm qua, dưới ánh sáng đường lối đổi mới của  Đảng, Đảng bộ huyện  đã vận dụng sáng tạo lãnh đạo Nhân dân thực hiện sự nghiệp đổi mới đạt được những thành tựu rất đáng tự hào trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh. Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XVIII đã tổng kết đánh giá: kinh tế của huyện có sự chuyển biến đáng kể. Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 11,55% (vượt chỉ tiêu 0,35%). Tỷ trọng nông - lâm - thủy sản giảm từ 44,5% năm 2010 xuống còn 42,8%; công nghiệp - xây dựng tăng từ 23,5% lên 24,6%; thương mại dịch vụ tăng từ 32,0% lên 32,6%. Thu nhập bình quân đầu người năm 2014 đạt 16,5 triệu đồng/người/năm, tăng 79% so với đầu nhiệm kỳ.

          Thu ngân sách nhà nước tại địa bàn hàng năm đều tăng, riêng năm 2014 đạt 19,8 tỷ đồng, tăng 13,8 % so với năm 2013. Tổng chi ngân sách 5 năm đạt trên 1.350 tỷ đồng, tăng bình quân 15%/năm, trong đó chi đầu tư phát triển chiếm tỷ trọng trên 15%. Công tác phân cấp trong quản lý thu, chi ngân sách nhà nước, cải cách hành chính và ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực tài chính được quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện. Nhu cầu vốn cho đầu tư, sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và người dân cơ bản được đáp ứng kịp thời.

          Lĩnh vực nông lâm nghiệp được tập trung chỉ đạo và đạt được nhiều kết quả quan trọng. Tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 10,27%; năng suất cây trồng và diện tích một số cây trồng chủ lực như cây cao su, cà phê, bời lời tăng đáng kể. Chỉ đạo rà soát, xây dựng quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch nông thôn, quy hoạch và bố trí lại dân cư, vùng chịu ảnh hưởng của thiên tai. Chương trình xây dựng nông thôn mới được tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện.

          Tập trung chỉ đạo khắc phục hậu quả cơn bão số 9 năm 2009, đã bố trí 06 điểm tái định cư cho gần 300 hộ dân; khắc phục hệ thống đường giao thông, cầu treo dân sinh, công trình thủy lợi, nước sinh hoạt; hỗ trợ sản xuất, chăn nuôi cho Nhân dân; đời sống của người dân đã từng bước được ổn định.

           Chỉ đạo xử lý cơ bản các hoạt động khai thác tài nguyên, khoáng sản trái pháp luật trên địa bàn. Thường xuyên kiểm tra, giám sát các tổ chức được cấp phép hoạt động thăm dò, khai thác và chế biến khoáng sản trên địa bàn.

          Công tác giao rừng đối với hộ gia đình và cộng đồng dân cư được triển khai thực hiện theo Phương án được duyệt. Thực hiện Đề án phát triển lâm nghiệp theo hướng bền vững đã đạt một số kết quả nhất định; vai trò của hệ thống chính trị cơ sở trong công tác quản lý, bảo vệ rừng tiếp tục được phát huy; ý thức bảo vệ rừng của Nhân dân đã có nhiều chuyển biến. Các ngành chức năng đã chủ động, phối hợp, triển khai đồng bộ các biện pháp ngăn chặn các hành vi vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng; giám sát chặt chẽ việc khai thác, chế biến lâm sản; công tác phát triển rừng đã được chú trọng triển khai thực hiện.

          Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở các ngành có lợi thế đã được chú trọng đầu tư phát triển góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy sản xuất, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân.

          Hệ thống thương mại, dịch vụ được mở rộng với sự tham gia của nhiều  thành phần kinh tế; mạng lưới phân phối được mở rộng đến nông thôn, đáp ứng nhu cầu của Nhân dân.

          Công tác lập, quản lý, công bố và tổ chức thực hiện quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch sử dụng đất của huyện đến năm 2020, quy hoạch, điều chỉnh quy hoạch đô thị và nông thôn đã được triển khai. Kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) của huyện và 12/12 xã, thị trấn được phê duyệt, tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý, chỉ đạo điều hành, phát triển kinh tế - xã hội của huyện.

          Hệ thống giao thông được đầu tư, nâng cấp và xây dựng mới, cơ bản bảo đảm lưu thông thuận lợi, thông suốt hai mùa; kết cấu hạ tầng nông thôn được cải thiện. Kết cấu hạ tầng trung tâm các xã và cụm xã được đầu tư, mở rộng. 110/112 thôn, làng có điện lưới quốc gia, trên 97,5% số hộ được sử dụng điện; trên 65,5% hộ gia đình ở khu vực nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh.

           Văn, hoá xã hội tiếp tục có sự chuyển biến tích cực, chất lượng nguồn nhân lực được nâng lên, nhiều vấn đề xã hội bức xúc, phát sinh đã được giải quyết kịp thời; đời sống văn hóa, tinh thần của Nhân dân được cải thiện đáng kể.

          Giáo dục - đào tạo tiếp tục phát triển và đạt được nhiều kết quả. Hệ thống trường, lớp được chú trọng đầu tư, quy mô mở rộng đã góp phần đáp ứng nhu cầu học tập của xã hội. Cán bộ quản lý ở các cơ sở giáo dục đều là đảng viên, hầu hết các cơ sở giáo dục có chi bộ độc lập; có 100% giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục có trình độ chuyên môn đạt chuẩn trở lên, góp phần thực hiện tốt yêu cầu, nhiệm vụ của ngành; chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng giáo dục học sinh dân tộc thiểu số nói riêng có sự chuyển biến tích cực. Đề án phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi; củng cố và nâng cao kết quả chống mù chữ, phổ cập THCS, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi; Đề án nâng cao chất lượng học sinh dân tộc thiểu số giai đoạn 2008 - 2015 được quan tâm chỉ đạo.

           Công tác y tế, chăm sóc sức khỏe cho Nhân dân đã có nhiều tiến bộ. Trung tâm Y tế huyện, phòng khám khu vực, trạm Y tế xã được quan tâm đầu tư, nâng cấp, sửa chữa, bổ sung trang thiết bị; tinh thần, thái độ phục vụ của đội ngũ y, bác sỹ đã được nâng lên; trẻ dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng thể nhẹ cân giảm còn 26,06%. Các trạm y tế xã, thị trấn đều có bác sĩ, 100% các thôn, làng có nhân viên y tế; đạt 7 bác sỹ/vạn dân; có 50% số xã đạt Bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã. Công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình được quan tâm, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên năm 2014 giảm xuống còn 1,84%. Công tác đảm bảo an toàn thực phẩm được đẩy mạnh.

          Công tác đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm được quan tâm chỉ đạo. Đã thành lập và triển khai đầu tư xây dựng Trung tâm dạy nghề của huyện. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 22%, công tác giải quyết việc làm đối với con em đồng bào dân tộc thiểu số sau khi tốt nghiệp các trường cao đẳng, đại học đã được quan tâm bố trí, sắp xếp công việc.

          Chính trị xã hội ổn định, công tác quốc phòng, an ninh được tăng cường; chủ động phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn hiệu quả âm mưu hoạt động “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch và bọn phản động; quản lý bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới quốc gia.

           Công tác đối ngoại, nhất là quan hệ đối ngoại với các huyện giáp biên của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào được củng cố, phát triển, góp phần tích cực cho việc phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh.

 Phương thức lãnh đạo, lề lối làm việc của các cấp ủy đảng có bước đổi mới và chuyển biến tích cực. Trong lãnh đạo, chỉ đạo đã bám sát nghị quyết, quy chế, chương trình, kế hoạch đề ra phù hợp với tình hình thực tế địa phương.

           Hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân các cấp đã có bước chuyển biến tích cực; đã ban hành các nghị quyết cụ thể hóa và tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả các chủ trương, nghị quyết của cấp uỷ. Vai trò giám sát trên các lĩnh vực hoạt động của Hội đồng nhân dân được phát huy. Chất lượng, hiệu quả quản lý, điều hành của Uỷ ban nhân dân được nâng lên. Công tác cải cách thủ tục hành chính được quan tâm thực hiện thường xuyên.

          Triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII,  Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XVIII, trong hai năm qua dưới sự lãnh đạo của Ban chấp hành Đảng bộ huyện mà trực tiếp là Ban thường vụ Huyện ủy, cán bộ, và các tầng lớp Nhân dân huyện nhà đã nỗ lực phấn đấu, thực hiện đồng bộ các giải pháp  thiết thực nhằm xây dựng huyện Đăk Glei ổn định và phát triển. Kinh tế tiếp tục tăng trưởng đạt và vượt các chỉ tiêu đề ra. An ninh chính trị trật tự an toàn xã hội được giữ vững ổn định. Theo số liệu thống kê mới nhất tính đến tháng 10 năm 2017:

          Về lĩnh vực phát triển kinh tế, tổng diện tích gieo trồng cây hằng năm 7.989/8.352ha. Sản lượng lương thực có hạt 13.136 tấn. Diện tích cây cà phê hiện có 1.528,4ha, cây cao su 1.557,8 ha. Tổng đàn gia súc 20,426 con. Diện tích nuôi trồng thủy sản 29,5 ha. Thu ngân sách đạt 12.541 triệu đồng đạt 61,1%. Vốn đầu tư phát triển được giao 83.193 triệu, đã giải ngân 53.377 triệu đạt 64,46%. Hiện toàn huyện có 50 doanh nghiệp các loại.

          Về lĩnh vực văn hóa xã hội, năm học 2017-2018, bậc mầm non có 12 trường, 147 lớp, 3722 học sinh, có 01 trường đạt chuẩn quốc gia; bậc tiểu học có 13 trường 273 lớp, 5481 học sinh, có 03 trường đạt chuẩn quốc gia; bậc trung học cơ sở có 13 trường , 106 lớp, có 3.235 học sinh, có 4 trường đạt chuẩn quốc gia; bậc trung học phổ thông  trường dân tộc nội trú có 10 lớp với 317 học sinh, trường PTTH Lương thế vinh 14 lớp  với 469 học sinh, phân hiệu Lương thế vinh 6 lớp, 167 học sinh.

          Tính đến nay có 9/12 xã đạt bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã. Chất lượng khám chữa bệnh ngày càng được nâng cao, các Chương trình Y tế quốc gia được triển khai tốt đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch.

          Các chính sách an sinh xã hội được các cấp các ngành triển khai đồng bộ hiệu quả, kịp thời.

          An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững ổn định, niềm tin của nhân dân tiếp tục được củng cố, khối đại đoàn kết toàn dân tiếp tục được phát huy.

           Lịch sử truyền thống 42 năm ngày thành lập lại huyện là niềm tự hào to lớn và cũng chính là lời căn dặn, nhân tố tinh thần, động lực cổ vũ cán bộ và Nhân dân huyện nhà quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ  XVIII đã đề ra, góp phần tích cực thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, thiết thực góp phần cùng Nhân dân cả nước thực hiện thắng lợi mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" mà Đảng ta đã đề ra. Thực hiện lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu: "Còn non còn nước còn người, thắng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay"

Bùi Văn Đường

Đăng bởi : Quản trị viên Ngày đăng : 31/10/2017 Lượt xem : 442
Quay Về